TP.HCM: Hòa thượng Thích Thái Hòa quang lâm tu viện Khánh An thuyết giảng Pháp thoại “Đường chúng ta đi”

Nghe đọc bài:

PSO - Sáng ngày 31/7/2026 (nhằm ngày 18/6 năm Bính Ngọ) trong mùa An cư kiết hạ PL.2570, tại Pháp đường Chánh Niệm - Tu viện Khánh An, Hòa thượng Thích Thái Hòa đã quang lâm có buổi pháp thoại vô cùng sâu sắc với chủ đề "Đường Chúng Ta Đi"với sự tham dự đông đảo của chư tôn đức tăng ni hành giả an cư, hành giả xuất gia gieo duyên và Phật tử đạo tràng.

Mở đầu bài pháp, Hòa thượng khẳng định con đường chúng ta đang đi chính là con đường mà chư Phật ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) và lịch đại tổ sư của chúng ta đã, đang và sẽ đi. Đi trên con đường này giúp hành giả có khả năng đoạn trừ tận gốc nguyên nhân của khổ đau, chứng nghiệm đời sống giải thoát an lạc và chấm dứt sinh tử ngay trong đời này hoặc những đời tiếp theo.

Con đường này chính là Đạo Thánh Đế. Chỉ khi bước đi trên lộ trình này, người tu học mới nhận chân được sự thật về Khổ, nguyên nhân của Khổ và chứng nghiệm Niết-bàn an lạc ngay trong thân năm uẩn này. Đối tượng đi trên con đường này vô cùng rộng lớn, bao gồm các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, thức-xoa-ma-na, sa-di, sa-di-ni, những vị thọ trì Bát quan trai giới, hành giả xuất gia gieo duyên cho đến hàng cận sự nam và cận sự nữ. Tùy thuộc vào nhân duyên và phước đức đã gieo trồng từ nhiều đời trước, mỗi người sẽ lần lượt bước đi để đạt đến hạnh phúc chân thật.

Bước đầu tiên của Đạo Thánh Đế là thực tập từ bỏ hai cực đoan và thực hành Trung đạo (Bát Chánh Đạo), vốn được Đức Phật chuyển vận lần đầu tiên tại Vườn Lộc Uyển cho năm anh em tôn giả Kiều Trần Như trong kinh Chuyển Pháp Luân.

Hòa thượng chỉ rõ hai lối sống sai lầm cần phải tránh, từ bỏ hai cực đoan:

Cực đoan thứ nhất – Ép xác khổ hạnh: Mong cầu giải thoát bằng cách hành hạ thể xác là điều không bao giờ xảy ra. Ví dụ minh họa: Việc bắt cơ thể chịu đựng những cực hình đau đớn quá mức chỉ khiến hành giả bị lệch về một phía và dẫn đến sự chao đảo, mất thăng bằng trong đời sống tu học.Cực đoan thứ hai – Buông lung trong các dục: Hưởng thụ và chạy theo các dục vọng thế gian, coi đó là tối thượng. Ví dụ minh họa: Việc đắm chìm vào các thú vui vật chất sẽ tạo ra sự nghiêng đổ, không thể dẫn tới đời sống thánh thiện, an lạc và giải thoát.

Hòa thượng nhấn mạnh Trung đạo (tiếng Pali là Majjhima Patipada) không đơn thuần là "con đường ở giữa" như một số sách vở hay giảng sư thường giải thích. Trong đó, Majjha nghĩa là trong tâm, còn Patipada nghĩa là hướng tới trọng điểm hoặc đặt đúng vào trọng điểm. Do đó, Trung đạo nghĩa là đặt đúng vào trọng điểm của sự tu tập, dồn hết sinh mệnh vào cốt lõi của sự tu hành mà không bị nghiêng lệch về bất cứ phía nào. Trung đạo chính là bản thể giữ sự cân bằng giữa thân và tâm cho Bát Chánh Đạo. Hòa thượng đã minh họa rõ nét qua các chi phần:

Chánh kiến và Chánh tư duy: Cái nhìn và suy nghĩ đúng với trọng điểm tu tập, không bị thiên lệch. Chánh ngữ: Lời nói thích ứng với Trung đạo. Người nói Chánh ngữ không ca ngợi nếp sống ép xác khổ hạnh, cũng không ca ngợi nếp sống hưởng dục, mà chỉ ca ngợi đời sống ly dục tịch tịnh, giúp lắng dịu các ý niệm tham dục trong tâm. Chánh nghiệp: Mọi tác ý không nghiêng về thường kiến hay đoạn kiến, an trú đúng vào trọng điểm tu hành để thân hành, khẩu hành và ý hành được an tịnh. Chánh mạng: Nuôi sống sinh mạng bằng nghề nghiệp chân chánh. Nếp sống "thiểu dục tri túc" (ít muốn, biết đủ) chính là biểu hiện sống động của Chánh mạng thích ứng với Trung đạo, nếu lệch khỏi điều này sẽ rơi vào nếp sống tà mãn. Chánh tinh tấn: Nỗ lực một cách vừa phải, không thái quá cũng không lười biếng. Khi một hạt giống xấu ác chưa phát khởi nơi ý thức, hành giả nỗ lực ngăn ngừa không cho nó khởi lên; nếu điều ác đã hiện hành nơi thân, khẩu, ý thì lập tức nỗ lực tìm đủ mọi cách đình chỉ để nó không tiếp tục hoạt khởi. Chánh niệm và Chánh định: Sự nhớ nghĩ và tập trung định tĩnh đúng với Trung đạo. Người thực hành Chánh định sẽ không bị chao đảo hay dao động trước những biến đổi của xã hội bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), mà luôn quay về nhìn sâu và nhiếp phục các tâm hành xao động để đạt đến trạng thái bất động.

Theo Hòa thượng, giá trị lớn nhất mà người xuất gia hay Phật tử đóng góp cho xã hội chính là việc phát huy tính tự giác, tỉnh giác và tự nguyện. Nếu thiếu đi ba yếu tố này, chúng ta sẽ lập tức trở thành gánh nặng ở bất cứ nơi nào chúng ta có mặt. Tại khóa an cư hay xuất gia gieo duyên ở tu viện Khánh An, nếu mỗi hành giả đều có ý thức tự giác, tỉnh giác và tự nguyện thì sự hiện diện của chúng ta sẽ vô cùng nhẹ nhàng, thảnh thơi; người quản chúng hay ban điều hành không cần phải nhọc công quản lý. Ngược lại, nếu thiếu đi ba chất liệu này, sự có mặt của hành giả sẽ trở thành gánh nặng và sự mệt mỏi cho ban điều hành.

Một xã hội ngày càng nặng nề với quá nhiều luật lệ, nghị định, nghị quyết là do các thành viên thiếu đi ý thức tự giác, tự nguyện, liên tục chạy theo các cực đoan khiến cộng đồng bị chao đảo từ biến thể này sang biến thể khác. Tu học chính là để lấy lại chủ quyền của bản thân từ tay vô minh, tà kiến, tà tư duy... để sống hoàn toàn với bản thể Trung đạo.

Sau khi nghe Đức Thế Tôn chuyển pháp luân, năm trạng thái nhận thức bừng sáng nơi Tôn giả Kiều Trần Như: Nhãn sinh, trí sinh, minh sinh, giác sinh, quang sinh. Mắt pháp và trí pháp mở ra giúp tôn giả thấy được Tứ Thánh Đế đầu tiên, sau đó xin xuất gia và được Đức Phật chấp thuận qua lời gọi "Thiện lai Tỳ-kheo".

Hòa thượng đã chia sẻ một câu chuyện lịch sử sâu sắc làm ví dụ minh họa cho nguồn gốc của hạnh nguyện Cúng dường và Bố thí trong Phật giáo: Sau khi đi khất thực về, Tôn giả Kiều Trần Như đã chọn phần cơm ngon nhất để dâng lên cúng dường Đức Phật nhằm bày tỏ lòng tôn kính và biết ơn sâu sắc đối với bậc Thầy. Phần cơm còn lại, tôn giả chia sẻ đều cho bốn bạn đồng tu chưa chứng ngộ để thể hiện tình đồng đạo rộng lớn.

Tiếp sau đó, lần lượt các tôn giả Vappa, Mahanama, Bhaddiya và Assaji cũng chứng ngộ Tứ Thánh Đế và thực hành hạnh nguyện tương tự. Từ sự kiện này, Hòa thượng khẳng định: Trong đạo Phật hoàn toàn không có sự mê tín hay cuồng tín; mê tín và cuồng tín chỉ xảy ra khi "nhãn, trí, minh, giác, quang" chưa sinh khởi. Người chưa mở được mắt pháp thì dù có tự nhận là đệ tử Phật cũng mới chỉ dừng lại ở mức gieo duyên mà thôi.

Đi sâu quán chiếu cốt lõi của Tứ Thánh Đế, Hòa thượng phân tích cặn kẽ:

Khổ Thánh Đế: Hành giả cần nhận diện hai điểm cốt lõi:Ngũ thủ uẩn khổ: Chấp thủ năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là ta, là của ta.  Hòa thượng nhắc nhở: "Ai muốn khổ thì cứ chấp thủ ngã cho to đi", bởi vì chấp uẩn là tự giam tù chính mình, còn buông bỏ sự chấp thủ đó mới mang lại sự thảnh thơi, tự do đích thực.Hạnh khổ (Khổ thâm sâu nhất trong ba loại khổ: Khổ khổ, Hoại khổ, Hạnh khổ): Cái khổ do sự vận hành, luân chuyển của nghiệp hành trong ba cõi. Chúng ta sinh ra trong cuộc đời này hoàn toàn bị động ("bị sinh"), không có chủ quyền chọn lựa cha mẹ, hình tướng, quê hương hay dòng họ. Chúng ta thụ động sống, thụ động chết và thụ động trong cả việc thương ghét. Nếu yêu thương mà không có chủ quyền, càng thương lại càng làm khổ nhau. Chỉ khi chuyển hóa được "nghiệp lực" thành "nguyện lực" nhờ tu tập, ta mới làm chủ được sự sinh tử của chính mình.Tập Thánh Đế  (nguyên nhân của khổ): Cốt lõi của Tập khởi là Ái, Thủ, Hữu và Vô minh, Hành. Muốn chấm dứt khổ đau, trước hết phải định chỉ Ái - Thủ - Hữu, sau đó dùng thiền quán để diệt trừ tận gốc Vô minh và Hành.Diệt Thánh Đế (con đường đưa đến Niết-bàn): Niết-bàn là sự an lạc tối thượng, hiện hữu ngay nơi tâm của mỗi chúng ta khi vắng bặt Ái, Thủ, Hữu, Vô minh và Hành. Ví dụ minh họa: Để định chỉ Ái - Thủ - Hữu, hành giả cần cắt đứt nguồn "thức ăn" (sự tiếp viện, dung dưỡng) của chúng, từ đó tâm thức tự khắc tịch lặng và cảnh giới Niết-bàn xuất hiện.Đạo Thánh Đế (tịch tĩnh, niết bàn).

Lưu ý lịch sử về Kinh điển, Hòa thượng lưu ý đại chúng rằng văn hệ Nikaya bằng tiếng Pali xuất hiện khoảng 1000 năm sau khi Phật Niết-bàn tại Sri Lanka, vốn được biên tập dựa trên nền tảng của văn hệ A-hàm (Agama) truyền thừa trực tiếp từ Thầy sang Trò. Do đó, văn hệ A-hàm mới là nền tảng cốt lõi của kinh điển nguyên thủy.

Dựa vào kinh Thánh Cầu, Hòa thượng giảng giải từ ngữ xuất gia trong tiếng Pali là Paparito mang 6 ý nghĩa vô cùng sâu sắc:

Khéo tu phạm hạnh: Thoát ly vĩnh viễn đời sống dâm dục. Cư sĩ tại gia dù tu giỏi đến đâu nhưng vì còn quan hệ vợ chồng để tiếp nối dòng dõi nên quả vị cao nhất chỉ đạt đến A-na-hàm (sau khi xả bỏ thân mạng sẽ sinh lên cõi trời Ngũ Bất Hoàn Thiên thuộc Sắc giới để tu tiếp). Chỉ có người xuất gia khéo đoạn trừ dâm dục mới đủ điều kiện chứng quả A-la-hán ngay trong đời này. Khéo tu tịnh hạnh: Thanh tịnh trong mọi oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống) và gìn giữ trọn vẹn từ giới Ba-la-di cho đến trăm pháp chúng học, bảy pháp diệt tranh. Khéo hành thiện nghiệp: Thực hành trọn vẹn các thiện nghiệp về thân, khẩu, ý. Khéo hành công đức nghiệp: Đặt trọn vẹn sinh mạng vào Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), thực hành Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc.... Hòa thượng nhấn mạnh mọi pháp hành nếu không quy hướng về Tam Bảo thì đều là pháp của ngoại đạo. Người xuất gia phải có khí chất "ủy khí thân mạng tôn sùng đạo cố, chí cầu đại thừa vị độ nhân cố" (bỏ qua thân mạng vì đạo pháp, cầu pháp Đại thừa để cứu độ chúng sinh).Khéo có lòng từ đối với chúng sinh: Xuất gia không phải vì thái độ chán đời. Nếu chán đời mà đi tu thì chỉ xây dựng những ngôi chùa tồi tàn. Việc kiến tạo những ngôi chùa to đẹp, trang nghiêm như tu viện Khánh An chính là biểu hiện của tâm đại từ bi để làm nơi quy ngưỡng cho đại chúng. Giống như việc Đức Phật đi khất thực không phải vì nhu cầu ăn uống mà vì lòng từ thương tưởng chúng sinh, tạo cơ duyên cho họ gieo trồng phước đức. Khéo thực hành không não hại chúng sinh: Mỗi cái nhìn, tư duy, lời nói, hành động và nếp sống của người xuất gia đều phải đem lại niềm tin cho quần chúng. Người xuất gia sống đời chánh mạng, giản dị và thiểu dục tri túc. Chúng xuất gia thường trú phải luôn đồng bộ tinh tấn tu học (không ngủ gục, không người trước người sau trên thiền đường) để nuôi dưỡng và làm vững mạnh niềm tin cho hành giả gieo duyên và Phật tử.

Để đúc kết nếp sống tu hành, Hòa thượng nhắc nhở đại chúng về bài kệ Giới kinh – hiến chương tu tập duy nhất của tăng đoàn trong 12 năm đầu tiên sau khi Đức Phật thành đạo: “Thiện hộ ư khẩu ngôn, Tự tịnh kỳ chi ý, Thân mạc tác chư ác. Thử tam nghiệp đạo tịnh, Năng đắc như thị hành, Thị đại tiên nhân đạo.”

Khéo phòng hộ lời nói (Khẩu nghiệp tịnh): Nói lời mang lại lợi ích và hạnh phúc cho đa số. Ví dụ minh họa: Nói phải đúng thời, đúng chỗ, đúng người, đúng việc và đúng pháp. Người xuất gia tuyệt đối tránh nói chơi, nói đùa vì dễ rơi vào hý luận sinh phiền não; khi im lặng cũng phải là sự im lặng đúng chánh pháp (im lặng thánh thiện).Tâm ý tự lắng trong (Ý nghiệp tịnh): Tự mình giữ lấy sự thanh tịnh, tỉnh giác và chánh niệm hằng ngày.Thân không làm các ác (Thân nghiệp tịnh): Không sát sinh (không tự giết, không bảo người giết, không tùy hỷ), không trộm cắp, sống nếp sống tịnh hạnh.

Hòa thượng khẳng định bài thực tập tuy vô cùng đơn giản nhưng rất sâu xa, là chìa khóa mở ra cảnh giới Tịnh độ ngay tại nhân gian.

Trước khi kết thúc bài Pháp, thay mặt hội chúng, Thầy viện chủ đã dâng lời tác bạch bái tạ thâm ân của Hòa thượng. Thầy đúc kết lại các điểm cốt lõi của bài giảng và nguyện đời đời kiếp kiếp nương tựa vững chãi nơi ba ngôi Tam Bảo, thực hành Tứ Thánh Đế, Tam vô lậu học (Giới - Định - Tuệ), quán chiếu 12 nhân duyên để chặt đứt xích xích luân hồi qua việc đoạn trừ Ái - Thủ - Hữu, và thực hành Bồ-tát hạnh vì lợi lạc của chúng sinh. Đạo tràng đồng thanh cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho Hòa thượng pháp thể khinh an, đạo thọ vô cùng để tiếp tục truyền trì đạo mạch.

Suốt hơn một tiếng rưỡi đồng hồ, lời khai thị từ bi của Hòa thượng đã hiến tặng nguồn pháp bảo vô giá, tưới tẩm dòng sữa pháp ngọt ngào và mang lại niềm hỷ lạc vô biên cho toàn thể hội chúng.

Thực hiện: Tuệ Tâm

Download Android Download iOS
[Video] Phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X

Căn cứ theo điều 38 chương IX Hiến chương GHPGVN quy định về công tác Đại hội và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Kỳ 8 Ban Thường trực Hội đồng Trị sự khóa IX (mở rộng), chiều 30/7, Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X đã tổ chức phiên họp lần thứ nhất theo hình thức trực tuyến nhằm triển khai công tác chuẩn bị cho Đại hội và Kỷ

[Video] Đồng Tháp: Chùa Linh Quang trang nghiêm tưởng niệm Húy kị lần thứ XVIII cố Hòa thượng Thích Nhuận Hiền

Trong không khí trang nghiêm, sáng ngày 28/7/2026 (nhằm ngày 15 tháng 6 năm Bính Ngọ), chùa Linh Quang (xã Bình Trưng, tỉnh Đồng Tháp) long trọng tổ chức lễ Húy kỵ lần thứ 18 tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Nhuận Hiền – nguyên Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tiền Giang, vị khai sơn chùa L

Tháng Bảy tri ân: Đời đời nhớ ơn các Anh hùng Liệt sĩ

Trong tinh thần tri ân và báo ân của đạo Phật, tưởng nhớ các Anh hùng Liệt sĩ không chỉ là dâng một nén tâm hương, mà còn là nhắc mỗi người biết trân quý hòa bình, sống thiện lành và có trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Lâm Đồng: Chùa Phước Minh khai mạc khóa sinh hoạt Phật pháp mùa hè "Tay Phật trong tay con" lần II

PSO – Chiều 31/7/2026 (nhằm ngày 18/6 năm Bính Ngọ), tại chùa Phước Minh (xã Hàm Kiệm), lễ khai mạc khóa sinh hoạt Phật pháp mùa hè năm 2026 "Tay Phật trong tay con" lần thứ II đã diễn ra với chủ đề "Trái tim hiểu biết", quy tụ hơn 400 tu sinh cùng đông đảo chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử, phụ huynh và tình nguyện viên.

QUAN TÂM & HỖ TRỢ

Phật Sự Online với chủ trương “Nhanh chóng – Kịp thời – chính xác và Nhân văn” đăng tải các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội và các tự viện trong cả nước cùng các chương trình tu học, thuyết giảng của chư Tôn đức Tăng, Ni giảng sư được truyền hình trực tiếp (Live Streaming) trên mạng xã hội: Facebook, Youtube, Phật Sự Online về các sự kiện Phật sự và trên 15 chương trình khác với mục đích “ Đẩy mạnh truyền thông Phật giáo như một kênh Hoằng pháp …”


Phật Sự Online có trên 60 nhân sự là phóng viên, Ban Biên tập và các bộ phận khác, vì vậy rất cần sự quan tâm chia sẻ, hỗ trợ của chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và quý vị yêu mến Đạo Phật để có được kinh phí đảm bảo sự hoạt động bền vững và lâu dài.

Background Donate

Chủ tài khoản: KENH PHAT SU ONLINE

Số tài khoản: 070104929298

Ngân hàng Sacombank chi nhánh Kiên Giang

QRCOde Quan tầm và hỗ trợ phật sự online