PSO - Sáng ngày 01/7/2026 (tức 17/5/Bính Ngọ), toàn thể môn đồ pháp quyến Chùa Thiên Chơn (khu phố An Thạnh, phường Thuận An), đã trang nghiêm cử hành Lễ húy kỵ lần thứ 75 Thiền sư Minh Tịnh - vị Tổ khai sơn chùa Thiên Chơn, viên tịch 17/5/1951 (năm Tân Mão), trụ thế: 63 năm, hạ lạp: 25 năm.
Quang lâm thắp hương tưởng niệm và chứng minh có: HT. Thích Thiện Xuân - Thành viên HĐCM GHPGVN, Trụ trì Chùa Hạnh Nguyện (P. Phú Thạnh); HT. Thích Chơn Không - Phó trưởng Ban Hướng dẫn Phật tử kiêm Trưởng Phân ban Cư sĩ Phật tử Trung ương, Trụ trì Chùa Thiên Tôn (P.An Đông); HT. Thích Thường Quang - Trụ trì Chùa Phổ Tịnh (P.Thủ Dầu Một); cùng chư Tôn đức Tăng Ni tông môn Chùa Thiên Chơn và đông đảo quý thiện nam tín nữ Phật tử đồng tham dự lễ Húy kỵ.
Tại buổi lễ, chư Tôn đức Ban Kinh sư đã niêm hương bạch Phật, thực hiện nghi thức cúng ngọ; sau đó cử hành khóa lễ cung tiến Giác linh cố Thiền sư Thích Minh Tịnh theo nghi thức truyền thống của Phật giáo.
Bày tỏ lòng tri ân công đức của Thiền sư Minh Tịnh suốt một đời cống hiến cho Đạo pháp – Dân tộc, chư Tôn đức Tăng Ni thành kính dâng hương tưởng niệm, nhất tâm cầu nguyện Giác linh Thiền sư thượng Minh hạ Tịnh trong khói hương trầm quyện tỏa được cao đăng thượng phẩm, hồi nhập Ta-bà hóa độ chúng sanh.
Dịp này, TT. Thích Chơn Phát - Ủy viên HĐTS - Ủy viên Thường trực Ban Trị sự, Trưởng ban Phật giáo Quốc tế GHPGVN TP.Hồ Chí Minh, Trụ trì Chùa Thiên Chơn hướng dẫn môn đồ tứ chúng thiết lễ trai tăng để viên tròn hiếu sự. Đồng thời, Phật tử Diệu Liên - đại diện hàng Phật tử tại Chùa Thiên Chơn thể hiện lòng tri ân đối với Thiền sư Minh Tịnh, chư vị Tổ sư các đời trụ trì tại chùa Thiên Chơn cũng như TT. Thích Chơn Phát - Trụ trì Chùa Thiên Chơn đã và đang hướng dẫn hàng cư sĩ Phật tử tiến tu tịnh nghiệp, vững bền trong giáo pháp và có được an vui trong giây phút hiện tại, buông xả những phiền não, vọng tưởng, trồng nhân Tịnh độ để được quả Tịnh độ, tác bạch cúng dường hiện tiền chư Tôn đức chứng minh, hồi hướng công đức đến Giác linh Hòa thượng Thiền sư Thích Minh Tịnh.
Đạo từ tại buổi lễ, Hòa thượng Thích Thiện Xuân tán dương tinh thần tri ân và báo ân của toàn thể môn đồ pháp quyến trong pháp sự ngày hôm nay, ngõ hầu lập thành công đức kính dâng lên Thiền sư Minh Tịnh. Hòa thượng kỳ vọng môn hạ đệ tửcũng như toàn thể quý Phật tử tiếp tục kế thừa sự nghiệp của của Tổ Thầy dấn thân phụng sự cho đạo pháp và chúng sanh, nỗ lực tu học, vun bồi đạo hạnh, làm việc thiện để đền đáp ơn Thầy Tổ, và phát triển chốn Tổ ngày một hưng thịnh, uy nghiêm.
Trước đó, chiều ngày 30/6, Thường trực Ban Trị sự Phật giáo TP.HCM có: HT. Thích Nhựt Hỷ - Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM; Thượng tọa Thích Thiện Quý – Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban kiêm Chánh Thư ký Ban Trị sự thành phố; TT. Thích Quang Thạnh - Ủy viên HĐTS, Phó Trưởng ban Ban Trị sự GHPGVN thành phố; Thượng tọa Thích Trung Nguyện – Phó Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Ban Trị sự Thành phố; cùng chư Tôn đức thành viên Ban Trị sự PG thành phố đã quang lâm đến Chùa Thiên Chơn dâng hương tưởng niệm, đảnh lễ tri ân công đức Thiền sư Thích Minh Tịnh và cầu nguyện Giác linh Trưởng lão Hòa thượng cao đăng Phật quốc.
Theo đó, Thiền sư Minh Tịnh tên thật là Nguyễn Tấn Tạo (thường được nhân dân vùng Thủ Dầu Một gọi kính cẩn là Ông Mười Tạo) sinh năm Kỷ Sửu 1889, tại thôn An Thạnh, tổng Bình Chánh, huyện Bình An, tỉnh Thủ Dầu Một cũ (ngày nay thuộc An Thạnh, phường Thuận An, TP.Hồ Chí Minh). Thân phụ Ngài là cụ ông Nguyễn Văn Lập và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ri. Ngài sinh trưởng trong một gia đình trung lưu nề nếp, giàu lòng yêu nước và có niềm thâm tín sâu sắc với Tam bảo.
Vốn là một trí thức uyên bác, am tường cả Đông học lẫn Tây học, Ngài từng làm công chức trong ngành y tế thời Pháp thuộc và mang lòng nhân ái cứu giúp vô số bệnh nhân. Nhờ hạt giống Bồ-đề gieo mầm từ thuở nhỏ, Ngài đã sớm nghiên cứu Phật học từ năm 16 tuổi và quyết tâm từ bỏ danh vọng thế tục để tìm kiếm con đường giải thoát tối hậu cho tự thân cùng chúng sanh.
Năm Giáp Tý (1924), mang chí nguyện xuất trần mãnh liệt, Ngài đến xin xuất gia đầu Phật với Hòa thượng Ấn Thành – Từ Thiện tại Chùa Sắc Tứ Thiên Tôn. Tại đây, Ngài được ban pháp danh là Chơn Phổ, pháp hiệu Nhẫn Tế, nối pháp đời thứ 40 dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh. Năm Bính Dần (1926), vì mến mộ tài trí và tinh thần yêu nước của Tổ sư Huệ Đăng, Ngài tìm đến núi Thiên Thai (Bà Rịa) tại Chùa Long Hòa để cầu pháp học đạo. Ngài được Tổ Huệ Đăng ban pháp danh Trừng Liến, pháp hiệu Minh Tịnh, kế thừa dòng truyền thừa đời thứ 42 dòng Thiên Thai Thiền Giáo Tông.
Đến tháng 8 năm Quý Dậu (1933), Ngài thọ đại giới với Hòa thượng Ngộ Định - Từ Phong làm Đường đầu trong Đại Giới Đàn quy mô tại Chùa Sắc Tứ Thiên Tôn, tỉnh Thủ Dầu Một (cũ).
Năm Mậu Thìn (1928), Ngài dựng lên một thảo am tre lá đơn sơ mang tên Thiên Chơn Am – tiền thân của Chùa Thiên Chơn sau này. Đồng thời, Ngài khai sơn một ngôi chùa tại vùng Phú Cường (Thủ Dầu Một), sau đổi tên thành Tây Tạng Tự.
Thiền sư Minh Tịnh đi vào lịch sử Phật giáo nước nhà như một "Tiểu Huyền Trang", trở thành vị tăng sĩ Việt Nam đầu tiên thực hiện cuộc hành trình tầm pháp vô tiền khoáng hậu sang Ấn Độ và tiến tận vào Tây Tạng với tâm niệm: "Muốn chấn hưng Phật pháp phải biết cội nguồn của Phật pháp".
Tháng 4/1935 (hoặc đầu năm 1936 theo một số tư liệu), Ngài khởi hành từ bến Nhà Rồng (Sài Gòn) sang Ấn Độ, chiêm bái trọn vẹn Tứ động tâm. Tại Bồ Đề Đạo Tràng, nhờ duyên lành gặp phái đoàn Lạt ma Mật giáo, Ngài đã quyết định đi bộ xuyên qua Nepal, bất chấp bão tuyết vùng Himalaya để tiến thẳng vào kinh đô Lhasa của Tây Tạng. Năm 1936, sau khi vượt qua các kỳ khảo thí gắt gao, Ngài được diện kiến Nhiếp chính vương Tây Tạng, thọ học giáo lý Mật tông và được ban pháp danh Thubten Osall Lama. Tháng 6/1937, Ngài trở về nước, mang theo vô số bộ kinh sách mật tạng, pháp bảo và Xá lợi Phật. Toàn bộ hành trình được lưu giữ trong quyển "Nhật ký tham bái Ấn Độ, Tây Tạng" viết tay bằng nhiều ngôn ngữ (quyển sổ tay).
Ngài không chỉ là một bậc chân tu đắc đạo mà còn là một nhà yêu nước nhiệt thành. Những năm 1944 – 1945, Ngài cho mượn Chùa Thiên Chơn và Chùa Tây Tạng làm cơ sở cách mạng cho Mặt trận Việt Minh. Năm 1945, Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, Ngài được suy cử làm Chủ tịch đầu tiên. Ngài lãnh đạo hơn 40 ngôi chùa trong vùng hậu thuẫn cách mạng, làm cố vấn quân - dân - chính đảng (1950) và là cha đỡ đầu của đồng chí liên trung đoàn trưởng. Ngài để lại công trình dịch thuật bộ kinh Lăng Nghiêm Tông thông có giá trị học thuật cao và từng tham gia biên thảo tạp chí Từ Bi Âm.
Sau những tháng ngày tận tụy vì đạo pháp và dân tộc, Ngài đã an nhiên thâu thần viên tịch vào ngày 17 tháng 5 năm Tân Mão (nhằm ngày 20 tháng 6 năm 1951), trụ thế 63 năm, 25 hạ lạp. Tang lễ được tổ chức trọng thể tại Chùa Tây Tạng và trong khu giải phóng. Kim thân Ngài được tôn thờ tại bảo tháp khuôn viên Chùa Thiên Chơn.
Chúc Nghĩa – Truyền thông PG KV.II



